văn bản
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 20 năm thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương (01/01/1997 - 01/01/2017)

Thành phố Đà Nẵng được tách từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành một đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương từ ngày 01/01/1997, theo Nghị quyết Kỳ họp thứ 10 ngày 06/11/1996 của Quốc hội khóa IX, đến nay tròn 20 năm. Sự kiện hành chính này mở đầu một giai đoạn phát triển đặc biệt, đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng: từ một thành phố thuộc tỉnh, thành phố Đà Nẵng (trực thuộc Trung ương )[1] đã nhanh chóng vươn mình thành đô thị loại I cấp quốc gia theo Quyết định số 145/2003/QĐ/TTg ngày 15/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 33/NQ-TW ngày 16/10/2003 về “Xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, qua đó, xác định phương hướng, nhiệm vụ: “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước; là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm bưu chính - viễn thông, tài chính - ngân hàng; một trong những trung tâm văn hóa thể thao, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh của khu vực miền Trung và cả nước”.

20 năm qua, bên cạnh những thuận lợi hết sức cơ bản, nhiều khó khăn, thách thức như thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, nhất là tranh chấp lãnh thổ, xâm phạm chủ quyền quốc gia diễn ra ngày càng gay gắt, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, cùng với không ít khó khăn phát sinh từ trong thực tiễn... đã tác động bất lợi đến thành phố. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng đã phấn đấu xây dựng thành phố phát triển vượt bậc cả về quy mô, tầm vóc, diện mạo, cũng như trình độ, chất lượng trên hầu hết các lĩnh vực, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử.

I. thành tỰu nỔI BẬT SAU 20 NĂM ĐÀ NẴNG TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

1. Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, các nguồn lực xã hội được phát huy, các ngành, lĩnh vực đều có bước phát triển

Sau 20 năm, thành phố Đà Nẵng thật sự trở thành một đô thị có tốc độ phát triển nhanh so với nhiều địa phương trong cả nước. Kinh tế hằng năm có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, mức tăng trưởng nhanh hơn ở mức 2 con số, bước vào nhóm các thành phố đang phát triển có mức thu nhập khá, cơ cấu kinh tế chuyển đổi tích cực, một số lĩnh vực, một số mặt đã có vị trí cao so với cả nước, tốc độ tăng trưởng thời kỳ 1997-2005 là 10,61%, từ 2006-2010 là 11,13%, do suy thoái kinh tế chung, tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2010-2015 còn 9,71%/năm, nhưng vẫn đạt tỷ lệ cao hơn so với bình quân cả nước[2]. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng các ngành dịch vụ, công nghiệp - xây dựng tăng, tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm[3]. Kim ngạch xuất khẩu tăng dần đều qua các năm, năm 1997 là 155 triệu USD, năm 2010 là 634 triệu USD đến năm 2015 đạt 1.295 triệu USD. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 1997 là 6.353 tỷ đồng đến năm 2010 là 34.104 tỷ đồng và đến năm 2015 là 72.500 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách trên địa bàn giai đoạn 1997-2010 liên tục đạt và vượt dự toán, năm 1997 là 1.164,4 tỷ đồng, năm 2010 là 17.755,9 tỷ đồng, đến năm 2014 tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn là 20.092 tỷ đồng và năm 2015 là 21.426,9 tỷ đồng[4]. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tăng dần qua từng năm với mức tăng bình quân là 9,4%/năm[5].

Những năm gần đây, Đà Nẵng có bước phát triển đột phá về du lịch, từng bước khẳng định đây là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố. Cơ sở hạ tầng du lịch được đầu tư phát triển mạnh, các sản phẩm du lịch tăng cả về chất lượng, số lượng và đa dạng về loại hình. Năm 1997 chỉ có một thương hiệu quốc tế là Furama Resort Đà Nẵng, đến nay thành phố đã có hầu hết các thương hiệu lớn như: InterContinental Pullman, Mercure, Novotel, Hyatt Regency, Fusion Maia, Vinpearl Luxury... Các sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng hóa và có sức hấp dẫn, trở thành điểm đến thu hút khách như: Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế (DIFC), Khu du lịch Bà Nà Hills, Công viên Châu Á, các khu vui chơi, giải trí, mua sắm, các khu nghỉ dưỡng biển... cùng với một số sự kiện đã trở thành những sản phẩm du lịch có giá trị nổi bật và thực sự hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế[6].

Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã và đang góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho người dân thành phố và các địa phương lân cận; đặc biệt là góp phần phát triển các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ, chế biến thủy sản trên nhiều lĩnh vực công nghệ, sản phẩm mới, phương thức quản lý, marketing[7]...

Các dịch vụ tài chính, tín dụng, ngân hàng, vận tải, tư vấn, bưu chính, viễn thông, y tế... phát triển theo hướng hiện đại, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất, du lịch, đời sống và hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống ngân hàng được mở rộng tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và người dân tiếp cận các dịch vụ ngân hàng. Hạ tầng giao thông vận tải, bưu chính, viễn thông phát triển nhanh, hoạt động vận tải phát triển khá, với chất lượng dịch vụ ngày càng cao.

2. Phát triển hạ tầng đô thị đồng bộ theo hướng văn minh, hiện đại, tạo nên những thay đổi đáng kể cả về tầm vóc, quy mô và diện mạo của thành phố

Hai mươi năm qua, thành phố đã tập trung nguồn lực để phát triển không gian đô thị, nhất là hạ tầng đô thị. Nhiều công trình trọng điểm có kỹ thuật hiện đại và quy mô lớn đã được đầu tư xây dựng, đưa vào sử dụng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, tiêu biểu như: Bệnh viện Ung bướu, Bệnh viện Phụ sản nhi, Nhà ga sân bay Quốc tế Đà Nẵng, Trung tâm Hành chính thành phố...

Hạ tầng giao thông được nâng cấp và xây dựng mới, thành phố tập trung đầu tư nhiều công trình hạ tầng giao thông có quy mô lớn, hiện đại, hệ thống giao thông nội thị và ngoại thành được kết nối hiệu quả. Nhiều cây cầu mới hiện đại được xây dựng như cầu Sông Hàn, cầu Tuyên Sơn, cầu Rồng, cầu Trần Thị Lý, cầu Nguyễn Tri Phương, cầu Hòa Xuân, cầu vượt Hòa Cầm, cầu vượt ngã ba Huế... Mỗi cây cầu đều mang một nét kiến trúc độc đáo riêng, góp phần tạo nên thương hiệu Đà Nẵng.

Đến nay trên địa bàn thành phố có 1.131,96 km đường; hàng trăm kilômét đường giao thông mới được thảm nhựa; nhiều tuyến đường chính của thành phố được đầu tư hoàn chỉnh từ đường, điện, cây xanh tạo cảnh quan cho thành phố[8]. Đặc biệt việc đầu tư các tuyến đường ven biển Liên Chiểu - Thuận Phước (nay là đường Nguyễn Tất Thành), Sơn Trà - Điện Ngọc (nay là đường Võ Nguyên Giáp - Hoàng Sa - Trường Sa) kết hợp với Hầm đường bộ Hải Vân nối các khu du lịch của thành phố Huế với khu du lịch bán đảo Sơn Trà, khu phố cổ Hội An, tạo tiền đề và định hướng cho việc phát triển dịch vụ sinh thái ven biển.

Cảng Đà Nẵng là cảng container được trang bị hiện đại ở khu vực miền Trung và là một trong những cảng thương mại lớn nhất Việt Nam, sản lượng hàng hóa qua Cảng đến cuối năm 2015 đạt 6,5 triệu tấn, gấp 7,3 lần so với năm 1997. Sân bay quốc tế Đà Nẵng là cảng hàng không lớn nhất khu vực miền Trung - Tây Nguyên, đã đón 06 triệu lượt khách vào năm 2015 và đang tiếp tục triển khai nâng cấp, mở rộng ga quốc tế để phục vụ Tuần lễ cấp cao APEC 2017, dự kiến đến năm 2020 sẽ đáp ứng 11-13 triệu lượt khách mỗi năm.

Đầu tư phát triển hạ tầng đã kết nối khu vực nội thành với các địa phương vùng ven để những khoảng cách về địa lý không còn là lực cản đối với sự phát triển chung của thành phố, đồng thời, đã mang lại cho đô thị Đà Nẵng một diện mạo mới. Về xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, đây được xem là giai đoạn mang tính đột phá, với sự đầu tư, phát triển nhanh và mạnh của thành phố. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và trên cơ sở chủ trương khai thác quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, thành phố đã đồng thời xây dựng và đưa vào sử dụng hàng loạt công trình giao thông, thông tin liên lạc, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, thu gom và xử lý rác thải, nước thải... Năm 1997, diện tích đô thị là 5.600 ha, nay ranh giới đô thị đạt tới con số 21.300 ha, việc mở rộng đô thị đã tạo thêm không gian ở và khai thác quỹ đất, xây dựng đô thị hoàn chỉnh, có cấu trúc hài hòa hơn. Việc phát triển các khu đô thị mới, khu tái định cư, khu công nghiệp, khu du lịch được tiến hành đồng thời với việc chỉnh trang đô thị[9]. Nhiều công trình mới có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, nhiều khu đô thị có hạ tầng đồng bộ, hiện đại, được khởi công xây dựng, hoàn thành và đưa vào sử dụng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng cuộc sống nhân dân, tạo nên diện mạo mới cho thành phố theo hướng thành phố biển, văn minh, hiện đại.

3. Quan tâm đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội; tăng cường xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thực thi các chính sách xã hội giàu tính nhân văn

Thực hiện quan điểm xây dựng và phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Thành ủy và UBND thành phố đã có nhiều chủ trương và giải pháp nhằm đầu tư xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo thành phố. Hai mươi năm qua, cùng với những thành tựu về kinh tế - xã hội, sự nghiệp giáo dục và đào tạo thành phố Đà Nẵng đã có những chuyển biến vượt bậc, toàn diện.

Mạng lưới các trường, lớp từ bậc học mầm non đến trung học phổ thông không ngừng được mở rộng và từng bước quy hoạch phù hợp với hệ thống giáo dục quốc dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị và nhu cầu học tập của mọi người dân, mọi lứa tuổi trên địa bàn. Đến năm học 2015 - 2016, toàn thành phố có 378 đơn vị, trường học; trong đó, có 178 trường mầm non, 100 trường tiểu học, 59 trường trung học cơ sở và 26 trường trung học phổ thông, 08 trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục thường xuyên - kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và dạy nghề, 05 trường  trung cấp chuyên nghiệp, 07 trường cao đẳng tư thục, 05 trường đại học tư thục. Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên không ngừng được chuẩn hóa và nâng cao, trong đó: mầm non có 100% cán bộ quản lý và giáo viên đạt trình độ chuẩn, trong đó có 76,7% đạt trình độ trên chuẩn đào tạo; tiểu học có 100% cán bộ quản lý và giáo viên đạt trình độ chuẩn, trong đó có 92,79% đạt trình độ trên chuẩn đào tạo; trung học cơ sở có 100% đạt trình độ chuẩn, trong đó có 87,7% đạt trình độ trên chuẩn đào tạo; trung học phổ thông có 100% cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên đạt chuẩn, trong đó 25,5% trên chuẩn đào tạo; trung tâm giáo dục thường xuyên có 100% đạt trình độ chuẩn, trong đó có 27,78% trên chuẩn đào tạo. Thành phố đã hoàn thành xong chương trình xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào thời điểm năm 1997, phổ cập trung học cơ sở vào năm 2001 và hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ trong độ tuổi 15-35 vào năm 2003; có 56/56 xã, phường duy trì tốt kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở.

Hằng năm, kết quả đánh giá, xếp loại học sinh về mặt hạnh kiểm - học lực, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp và đỗ thủ khoa vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng cao; số học sinh tham gia các kỳ thi học sinh giỏi, năng khiếu các cấp đạt kết quả tốt, từ năm 1997 đến nay, thành phố đã đạt được 793 giải quốc gia, 23 giải quốc tế và khu vực Châu Á. Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; phát triển đa dạng các loại hình trường học, nhất là loại hình trường ngoài công lập.

Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân được quan tâm đúng mức. Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng cao; công tác phòng, chống dịch bệnh đạt kết quả tích cực. Mạng lưới y tế trên địa bàn thành phố tiếp tục được củng cố hoàn chỉnh theo quy định[10]. Với sự đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ, nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế và đặc biệt là việc đẩy mạnh công tác xã hội hóa y tế, cơ sở hạ tầng của các bệnh viện được nâng cấp và xây mới, trang thiết bị y tế ngày càng được trang bị đầy đủ, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế ngày càng được nâng cao[11]. Hệ thống y tế tư nhân, dịch vụ y tế chuyên sâu, chất lượng cao có bước phát triển vượt bậc, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân. Quyền lợi của người khám và chữa bệnh bảo hiểm y tế được bảo đảm. Năm 1997, thành phố chỉ có 02 bệnh viện tư, đến nay có 08 bệnh viện tư, 22 phòng khám đa khoa, chuyên khoa tư nhân và trên 1.819 phòng khám y tế tư nhân từng bước đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh được đảm bảo, không để dịch bệnh, ngộ độc lớn xảy ra. Công tác tuyên truyền, vận động thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật dân số, kế hoạch hóa gia đình đạt kết quả nhất định.

Đến cuối năm 2014, Đà Nẵng cơ bản hoàn thành mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân theo kế hoạch đã đề ra, đạt tỷ lệ bao phủ BHYT là 925.321 người chiếm tỷ lệ 92,5% dân số, tăng 16,5% (244.250 người) so với năm 2009 (681.071 người tham gia, đạt 76% so với dân số). Đến nay, độ bao phủ bảo hiểm y tế tại thành phố Đà Nẵng đã đạt 96%.

Đời sống văn hóa của nhân dân từng bước được nâng lên. Thành phố đã chú trọng công tác trùng tu, tôn tạo, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể; tiến hành nghiên cứu, phục dựng một số lễ hội văn hóa dân gian địa phương; tăng cường phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng nhiều công trình văn hóa, thể thao lớn, phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí, rèn luyện sức khỏe của người dân. Không ngừng xây dựng, củng cố hệ thống các thiết chế văn hóa cơ sở, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần nhân dân, tạo động lực mới cho sự phát triển. Các công trình thiết chế văn hóa được đầu tư mạnh mẽ như Bảo tàng điêu khắc Chăm, Bảo tàng Mỹ thuật, Thư viện Khoa học tổng hợp, Nhà hát Trưng Vương, Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, Bảo tàng Đà Nẵng, Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật, Nhà Văn hóa Lao động, khu thể thao Tiên Sơn, Cung thiếu nhi Đà Nẵng... Hoạt động văn học - nghệ thuật - thể thao có nhiều chuyển biến tích cực; báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình tiếp tục phát triển, thể dục thể thao quần chúng phát triển trên diện rộng, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của thành phố.

Các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết kịp thời, gắn với từng bước thực hiện công bằng xã hội, tạo chuyển biến rõ nét trong việc giải quyết những vấn đề trọng tâm, bức xúc. Cả hệ thống chính trị và toàn xã hội chung sức thực hiện các chương trình an sinh, phúc lợi xã hội, hỗ trợ người nghèo, cận nghèo, công nhân, lao động có hoàn cảnh khó khăn, giúp người nghèo tiếp cận các nguồn vốn tín dụng và dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng. Các phong trào đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, xây nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm cho các đối tượng chính sách, cùng với các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện phát triển rộng khắp[12]. Đến nay, 100% gia đình người có công với nước có mức sống từ trung bình trở lên so với dân cư nơi cư trú, trong đó có trên 80% gia đình chính sách có mức sống khá. 100% xã, phường được công nhận là xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công.

Chương trình “5 không, 3 có” được triển khai sâu rộng trong toàn xã hội, được các cấp, các ngành, các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng, đạt được nhiều kết quả tích cực. Các chương trình đã đi vào cuộc sống, tạo ra những thay đổi mới cho thành phố[13]. Đề án giảm nghèo qua các giai đoạn luôn về đích trước 1 đến 3 năm. Đến cuối năm 2015, thành phố cơ bản hoàn thành mục tiêu giảm nghèo và giảm hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn theo chuẩn của thành phố. Thành phố quan tâm chính sách về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn thành phố theo từng giai đoạn; chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, lao động vùng di dời giải tỏa…; giải quyết việc làm cho 1,2 - 1,3 vạn lao động/năm góp phần vào việc giải quyết việc làm chung của toàn thành phố từ 30 - 32 vạn lao động/năm; giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị từ 4,86% năm 2010 xuống còn 4% cuối năm 2015.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” từng bước đi vào chiều sâu, gắn kết có hiệu quả với Đề án “Xây dựng nếp sống văn hoá - văn minh đô thị”, triển khai “Năm văn hóa, văn minh đô thị 2015”, góp phần nâng cao dân trí, tạo nền tảng tinh thần, động lực mới cho phát triển. Đến nay, thành phố tiếp tục chủ trương thực hiện “Năm văn hóa, văn minh đô thị” và “Chương trình thành phố 4 an”[14].

Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả cao, các công trình giao thông, thủy lợi, văn hóa - xã hội - y tế, xóa nhà tạm cho người dân… được tập trung triển khai theo tinh thần Chỉ thị số 18-CT/TU của Thành ủy, từ đó bộ mặt nông thôn Hòa Vang có sự thay đổi rõ nét. Đến nay, thành phố có 11/11 xã đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí nông thôn mới, huyện Hòa Vang được Chính phủ công nhận huyện đạt nông thôn mới.

4. Giữ vững ổn định quốc phòng - an ninh tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của thành phố

Quốc phòng và quân sự địa phương luôn được tăng cường chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả. Thành phố đã hoàn thành quy hoạch tổng thể các công trình quốc phòng đến năm 2020; xây dựng thế trận và các tiềm lực khu vực phòng thủ thành phố ngày càng vững chắc; thực hiện có hiệu quả chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, nhất là trong quá trình quy hoạch, xây dựng, triển khai các dự án đầu tư. Công tác bồi dưỡng, giáo dục kiến thức quốc phòng và an ninh được triển khai sâu rộng. Chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu của LLVT thường xuyên được tăng cường. Chỉ tiêu tuyển chọn, gọi thanh niên nhập ngũ hằng năm hoàn thành 100%, đảm bảo chất lượng tốt. Công tác đăng ký, quản lý lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ và công tác hậu phương quân đội được thực hiện nghiêm túc, chu đáo.

Công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, biển đảo luôn thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng và tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết kịp thời một số tình huống xảy ra trên khu vực biên giới biển, thường xuyên đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục trong nhân dân, nhất là trong học sinh ý thức về chủ quyền biển đảo, kiến thức về lịch sử xác lập và liên tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được đảm bảo và giữ vững ổn định. Thành phố chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các âm mưu, hoạt động phá hoại an ninh quốc gia; đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, giải quyết tệ nạn xã hội đạt kết quả khá tốt. Trật tự an toàn giao thông có chuyển biến tích cực; tai nạn giao thông giảm trên cả 3 tiêu chí.

Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai sâu rộng và đồng bộ, tạo nên sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần, củng cố và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân và biên phòng toàn dân ngày càng vững chắc.

5. Hoạt động đối ngoại và hợp tác phát triển, hội nhập quốc tế được mở rộng

Những năm đầu tách tỉnh, công tác đối ngoại của Đà Nẵng chủ yếu tập trung vào công tác đối ngoại chính trị, ngoại giao kinh tế nhưng chủ yếu thiên về tiếp nhận các dự án ODA và NGOs do các chính phủ và tổ chức quốc tế hỗ trợ. Năm 2006 được xem là thời điểm đánh dấu bước phát triển đối ngoại mạnh mẽ nhất khi lần đầu tiên Đà Nẵng được chọn làm địa điểm tổ chức các cuộc họp quan trọng của Hội nghị cấp cao APEC lần thứ XIV. Sự kiện này thể hiện sinh động hình ảnh và vị thế quốc tế ngày càng cao của Đà Nẵng.

Tiếp nối thành công đó, từ năm 2007 đến nay, hoạt động đối ngoại Đà Nẵng  đã có bước phát triển nhanh trên các mặt chính trị đối ngoại, văn hóa đối ngoại và đặc biệt là kinh tế đối ngoại[15]. Với thế và lực mới, đối ngoại Đà Nẵng chuyển dần từ việc thụ động tiếp cận các dự án, cơ hội hợp tác sang việc chủ động hội nhập tự tìm kiếm các cơ hội hợp tác phù hợp với hoàn cảnh phát triển của thành phố. Thành phố duy trì quan hệ đối ngoại, tăng cường hợp tác đầu tư, xúc tiến thương mại, chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh về môi trường đầu tư để thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường trong và ngoài nước[16]. Hiện nay, thành phố ưu tiên thu hút vốn FDI vào các ngành công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp phụ trợ, các ngành dịch vụ chất lượng cao. Điều đó chứng tỏ sức hút của thành phố với tư cách là trung tâm kinh tế năng động khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

6. Năng lực lãnh đạo của Đảng bộ thành phố, hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền được nâng lên, kỷ cương, kỷ luật được tăng cường

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ thành phố không ngừng được nâng cao là nhân tố hàng đầu bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố. Đảng bộ thành phố không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội, bồi đắp cho sự gắn bó máu thịt của nhân dân với Đảng, phát huy và khơi dậy tiềm năng, sáng tạo của nhân dân để xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố.

Việc triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo tinh thần Chỉ thị 06-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X), Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) “Về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiếp đến Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã đi vào đời sống, từng bước trở thành ý thức thường xuyên trong đông đảo cán bộ, đảng viên và có sức lan tỏa trong xã hội, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Thực hiện chặt chẽ, đồng bộ các nhóm giải pháp theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng. Tinh thần tự phê bình, phê bình, xây dựng, tính tiên phong gương mẫu được phát huy; đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng được nâng cao. Công tác tư tưởng được coi trọng; đẩy mạnh tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, kịp thời đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần phòng chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhiều tổ chức cơ sở đảng được nâng  lên, lãnh đạo giải quyết kịp thời nhiều vấn đề phát sinh, khó khăn, bức xúc của nhân dân. Chất lượng sinh hoạt chi bộ được nâng cao, đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên được cải tiến, đi vào thực chất.

Công tác bồi dưỡng, giáo dục, phát triển đảng viên chuyển biến tích cực cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng; số tổ chức đảng kết nạp đảng viên trẻ, nữ và học sinh, sinh viên,… được kết nạp đảng đều tăng. Hằng năm, thành phố có trên 70% số tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó 15% đạt trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; trên 60% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong đó có trên 6% đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, bình quân mỗi năm phát triển hơn 2.000 đảng viên mới, bảo đảm yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng; tổng số đảng viên toàn Đảng bộ thành phố hiện nay lên hơn 50 ngàn với trên 600 tổ chức cơ sở đảng.

Thành phố đã chú trọng sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở theo hướng tinh gọn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động; đã tiến hành thí điểm mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND cùng cấp; tăng thêm chức danh phó bí thư đảng ủy đối với một số phường xã; củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các tổ chức dưới phường xã.

 Công tác xây dựng chính quyền được đẩy mạnh, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong lãnh đạo, điều hành. Vai trò của HĐND thành phố được phát huy. Việc triển khai thực hiện chủ trương thí điểm không tổ chức HĐND quận, huyện, phường đạt kết quả tích cực. Thành phố đã tiến hành điều chỉnh địa giới hành chính, đồng thời tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND thành phố theo hướng ngày càng hợp lý hơn và tinh gọn, phù hợp với tiêu chí xây dựng chính quyền đô thị; chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chính quyền từng bước nâng lên, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. 

Công tác nội chính, cải cách tư pháp được tập trung triển khai thực hiện và đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Đã thực hiện tăng thẩm quyền xét xử cho tòa án cấp quận, huyện; củng cố tổ chức bộ máy, kiện toàn cơ quan thi hành án dân sự theo mô hình mới ở 2 cấp; xã hội hóa hoạt động công chứng; nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và các hoạt động tố tụng, nhất là tranh tụng tại tòa. Chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân; củng cố, kiện toàn các cơ quan tư pháp và các tổ chức bổ trợ tư pháp. Quan tâm thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.

Một trong những thành tựu nổi bật của Đà Nẵng hai mươi năm qua là công tác cải cách hành chính. Thành phố đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư; triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp; đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh; nỗ lực xây dựng môi trường đầu tư theo hướng cởi mở, thông thoáng, chủ động tìm kiếm, tiếp cận, mời gọi đầu tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh về thành phố, đa dạng hóa phương thức xúc tiến đầu tư… đưa kinh tế đối ngoại thành phố phát triển lên một bước mới. Những nỗ lực chung về cải cách hành chính tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố sâu rộng trên tất cả lĩnh vực, góp phần đưa Đà Nẵng đến thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng tỉnh, thành theo nhiều chỉ số. Từ năm 2005-2015, thành phố Đà Nẵng luôn thuộc nhóm các địa phương dẫn đầu và có chỉ số tốt về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (xếp thứ nhất, nhì nhiều năm liền); chỉ số sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin (dẫn đầu 4 năm liên tiếp); chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công cấp tỉnh (xếp thứ nhì trong 2 năm 2012, 2013, đứng đầu về tiêu chí thủ tục hành chính công); chỉ số cải cách hành chính (dẫn đầu 2 năm liên tiếp 2012, 2013). Nhiều mô hình mới, cách làm mới của thành phố Đà Nẵng được Trung ương và các tỉnh, thành phố trong cả nước ghi nhận, nghiên cứu.

7. Dân chủ được mở rộng, vai trò của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội được phát huy

Hai mươi năm qua, Đà Nẵng đã tích cực thực hiện sáng tạo nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, không ngừng mở rộng dân chủ trong toàn xã hội, luôn phấn đấu để đạt được mục tiêu: “Đảng nói, dân tin; Mặt trận, đoàn thể vận động, dân theo; Chính quyền làm, dân ủng hộ”. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tiếp tục được củng cố về tổ chức, đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động; có nhiều hình thức phù hợp trong việc vận động, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân, góp phần thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, phát huy vai trò nòng cốt trong việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội trong các tầng lớp nhân dân; trở thành chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng bộ và chính quyền các cấp.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Đánh giá chung

Hai mươi năm qua, Đảng bộ và nhân dân thành phố đã đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, đạt được những thành tựu to lớn, tương đối toàn diện trên các lĩnh vực đời sống xã hội, nổi bật là tình hình chính trị thành phố luôn ổn định và giữ vững, nội bộ đoàn kết thống nhất, nhân dân đồng thuận, kinh tế - xã hội phát triển theo hướng bền vững, quốc phòng - an ninh được củng cố, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được tăng cường; quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế mở rộng, vị thế thành phố được nâng cao, tạo thế và lực mới cho thành phố đẩy mạnh phát triển và hội nhập.  

 Thành phố đã lựa chọn đúng và chỉ đạo thực hiện có kết quả những vấn đề lớn, mang tính đột phá; đặc biệt là triển khai tốt công tác xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch đô thị, nhờ vậy trong một thời gian không dài, đã làm thay đổi diện mạo thành phố theo hướng văn minh, hiện đại; đề ra được nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân; huy động được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài để đầu tư phát triển thành phố. Kinh tế thành phố phát triển toàn diện và đạt được tốc độ tăng trưởng khá; kết cấu hạ tầng đô thị được đầu tư phát triển đồng bộ. Các chủ trương về khai thác quỹ đất, tạo vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng, phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cùng với công tác đền bù, giải tỏa, tái định cư tuy có quy mô khá lớn, nhưng đã được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục phát triển, nhiều chính sách an sinh xã hội gắn với chương trình thành phố “5 không”, “3 có” được triển khai có hiệu quả. Đặc biệt, trong bối cảnh ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, thành phố đã triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội mang đậm tính nhân văn, tạo được sự đồng thuận cao của các tầng lớp nhân dân thành phố.

Tự hào với những thành tựu đạt được trong 20 năm qua, phải nghiêm túc nhìn nhận những hạn chế, khuyết điểm nhằm tìm ra những biện pháp khắc phục giúp thành phố tiếp tục vững bước tiến lên trong giai đoạn mới: Kinh tế tăng trưởng khá nhưng quy mô chưa lớn, phát triển chưa bền vững, tích lũy còn hạn chế, tiềm năng, lợi thế trên một số lĩnh vực chưa được khai thác, phát huy tốt. Đầu tư phát triển các lĩnh vực sản xuất còn chậm so với đầu tư phát triển hạ tầng. Sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế cũng như của nhiều sản phẩm chưa cao. Vai trò động lực, liên kết khu vực và sức lan tỏa của Đà Nẵng trong vùng còn hạn chế; kinh tế biển chưa được đầu tư, khai thác hợp lý; kết cấu hạ tầng và công tác quản lý đô thị có mặt còn bất cập; nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu; cải cách thủ tục hành chính vẫn có mặt hạn chế. Kết cấu hạ tầng đô thị được đầu tư phát triển nhanh, nhưng có mặt chưa đồng bộ. Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đồng đều giữa các vùng; các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ phát triển chưa ngang tầm với tiềm năng, lợi thế của thành phố. Lĩnh vực an ninh trật tự vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây mất ổn định. Một số mặt về công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, củng cố hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở chuyển biến chậm.

Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Về khách quan, 20 năm qua, với những biến động chính trị, khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàn cầu, những bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước, giá cả, nguyên, nhiên vật liệu tăng cao, thiên tai diễn biến phức tạp, cùng với nhiều vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh, đã tác động bất lợi đến việc lãnh đạo và thực hiện các nhiệm vụ chính trị của thành phố. Về chủ quan, đó là năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, công tác quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền có mặt còn hạn chế. Cơ cấu đội ngũ cán bộ, tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức các cấp vẫn còn bất cập. Chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ trí thức khoa học chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển mới của thành phố. Vai trò của Mặt trận, đoàn thể chưa được phát huy đầy đủ, hoạt động còn hành chính hóa, hiệu quả chưa cao.

2. Bài học kinh nghiệm

Từ những thành tựu và nhất là những hạn chế, khuyết điểm trong 20 năm qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Thứ nhất, Đảng bộ thành phố cần kế thừa truyền thống đoàn kết, thống nhất trong nội bộ; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân và vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị cùng trách nhiệm chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo nên nguồn lực lớn và bền vững cho sự phát triển thành phố.

Thứ hai, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, cần đổi mới cách nghĩ, cách làm, vừa biết nghĩ vừa dám làm và dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân; không ngại khó khăn, gian khổ, kiên quyết, kiên trì thực hiện đến cùng những mục tiêu đã được xác định đúng; tuân thủ nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách đi đôi với đề cao vai trò của người đứng đầu.

Thứ ba, cần mạnh dạn đề ra những chủ trương đúng hướng, kịp thời, những giải pháp mang tính đột phá, đi trước đón đầu; biết tận dụng và khai thác tiềm năng, lợi thế sẵn có tại địa phương; phát huy tối đa nội lực, huy động các nguồn lực từ bên ngoài; tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của Trung ương và các địa phương bạn; đảm bảo an sinh xã hội và giữ vững ổn định chính trị.

III. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU TỔNG QUÁT TRONG 5 NĂM 2015 - 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI Đảng bộ thành phố đã đề ra Phương hướng, mục tiêu tổng quát 5 năm (2015 - 2020): Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị, phát huy dân chủ và sức mạnh đồng thuận, huy động mọi nguồn lực xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế, văn hoá - xã hội, động lực phát triển của khu vực miền Trung - Tây Nguyên; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh; phấn đấu xây dựng Đà Nẵng giàu đẹp, an bình, văn minh, hiện đại.

Tầm nhìn đến năm 2030:

Xây dựng Đà Nẵng trở thành một đô thị lớn theo hướng sinh thái, trung tâm kinh tế - xã hội lớn của khu vực và cả nước; tập trung phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn và công nghiệp công nghệ cao; kết cấu hạ tầng giao thông, đô thị đồng bộ, hiện đại; có văn hóa, văn minh đô thị lành mạnh, thân thiện; xây dựng thành phố môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.   

Trên cơ sở vận dụng linh hoạt, sáng tạo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Kết luận số 75-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI), Nghị quyết Đại hội XXI Đảng bộ thành phố, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Đà Nẵng đã xác định ba đột phá về phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đến năm 2020:

- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là du lịch, thương mại; tập trung thu hút đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin;

- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và có trọng điểm; xây dựng và phát triển văn hóa, văn minh đô thị, xây dựng thành phố môi trường;

- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Đồng thời xác định các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020 (tính theo phương pháp giá cơ bản):

- Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP) tăng bình quân 8 - 9%/năm.

- GRDP bình quân đầu người ước đạt 4.000 - 4.500 USD.

- Cơ cấu GRDP: Dịch vụ 63 - 65%; Công nghiệp - Xây dựng 35 - 37% và Nông nghiệp 1 - 2%.

- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 9,5 - 10,5%/năm.

- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 10 - 11%/năm (trong đó, công nghiệp tăng 10,5 - 11,5%/năm).

- Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng bình quân 2 - 3%/năm.

- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng bình quân 15 - 16%/năm.

- Tổng thu ngân sách Nhà nước tăng bình quân 5 - 8%/năm; tổng chi ngân sách Nhà nước tăng bình quân 2 - 3%/năm.

- Tổng vốn đầu tư phát triển tăng bình quân 9 - 10%/năm.

- Giảm tỷ suất sinh 0,1‰/năm.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 50 - 55%; tỷ lệ tạo việc làm tăng thêm bình quân 4 - 5%/năm.

- Hoàn thành Đề án giảm nghèo của thành phố giai đoạn 2016-2020[17].

- Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch 95 - 100%; tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đạt 95 - 98%.

- Phấn đấu hằng năm phát triển trên 2.000 đảng viên đảm bảo về chất lượng, không có tổ chức cơ sở đảng yếu kém; hằng năm có từ 90% đảng viên trở lên hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Đà Nẵng cũng đã xác định các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đối với nhiều lĩnh vực đến năm 2020:

1. Về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh

- Vận dụng và ban hành cơ chế, chính sách đặc thù, hiệu quả để đẩy mạnh thu hút đầu tư trong và ngoài nước, hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân;

- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là du lịch, thương mại; tập trung thu hút đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin;

- Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và có trọng điểm;

- Xây dựng đô thị văn minh;

- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao;

- Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ chủ quyền biển đảo, khẳng định chủ quyền đối với huyện đảo Hoàng Sa.

2. Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

- Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên;

- Xây dựng chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và hiệu lực điều hành, quản lý nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính;

- Phát huy dân chủ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.

BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY

văn bản

Đang online: 1
Tổng truy cập: 270091